Thơ tình xuân- Trần Vĩnh Hải

alt

THƠ TÌNH XUÂN


Đường mây từng trải bước lần qua

Ngẫm ngợi tư phong nước non nhà

Trước chí lập công mong yên quốc

Sau vì hạnh phúc lợi nhân hòa.


Thế rồi cứ mỗi xuân qua

Trong ông càng thấy đậm đà sắc xuân

Trải bao vách quế, phong trần

Mười bốn tuổi đã đăng quân diệt thù.


Song toàn một đấng nam nhi

Trải qua hai cuộc trường kỳ chiến chinh

Bao mầm hạnh phúc trong ông

Nửa phần đồng đội, nửa dành vợ con.


Gan không núng, chí không mòn

Một đời chung thủy, sắc son trong lòng

Miệt mài gạn đục khơi trong

Cho đời nhân ái, để lòng thảnh thơi.


Đã qua tám mươi ba xuân rồi

Vẫn uy phong vẫn ngời ngời tình xuân

Câu thơ gạn bước phong trần

Con tằm vào kén nhả dần đường tơ.


Kính tặng ông vạn lời thơ

Bách niên, trường thọ đang chờ đón ông.


HK

Kỷ niệm 74 năm ngày truyền thống Quân đội Nhân dân Việt Nam (1944- 2018)

Kính gửi các đồng chí Cựu Chiến binh Doanh nghiệp Doanh nhân họ Trần Việt Nam. Thay mặt Hội Doanh nghiệp, Doanh nhân họ Trần; gửi đến các đồng chí cựu chiến binh trong tổ chức Doanh nhân, Doanh nghiệp dòng họ Đông A lời kính chúc:

alt

CCB. DOANH NHÂN TRẦN VĨNH HẢI

CHỦ TỊCH HỘI DNDN HỌ TRẦN VIỆT NAM


TINH THẦN TRUYỀN THỐNG QUÂN ĐỘI TA


Các đồng chí một thời gian khó

Vẫn xông pha mặt trận làm giầu

Tâm thanh thản, lòng hướng ra phía trước

Thời chiến tranh chẳng ai so mất được


Dẫu hi sinh chẳng cần thước đo lòng

Mặt trận mới họ mình vẫn thế

Thương trường – hào khí vẫn ĐÔNG A

Vẫn hát vang bài ca quyết thắng


Tình dòng họ yêu mãi còn đây

Đông A đó bóng hình đất nước

Bẩy tư năm truyền thống hôm nay

Đông A Doanh Nghiệp mãi say làm giàu.


Hải Phòng ngày 22 tháng 12 năm 2018

TVH

Những dấu ấn lịch sử vàng son của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên đất Hải Phòng

alt

Thượng toạ Thích Thanh Giác

(Uỷ viên HĐTS- Phó Trưởng ban Thường trực Ban Hoằng pháp TƯGHPGVN

Phó trưởng ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN thành phố Hải Phòng)

- Cách đây 710 năm ngày mồng 1 tháng 11 năm Mậu Thân niên hiệu Hưng Long thứ 16, đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn tại Am Ngoạ Vân, trên non thiêng Yên Tử, thọ 51 tuổi. Ngài là vị vua thứ ba của triều Trần (1225-1400) đầy hiển hách. Trong suốt 15 năm trị vì đất nước (1278-1293). Hoàng đề Trần Nhân Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt hai lần đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên. Ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (1278) Ngài lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo (1279-1284). Trùng hưng (1285-1293). Năm 1293 Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, lui về phủ Thiên Trường (Nam Định) làm Thái thượng hoàng, nhưng Ngài vẫn chỉ đạo và giám sát nhà vua. Vốn sùng kính Đạo Phật từ nhỏ. Năm 1295 Ngài đã đến chùa Vũ Lâm, huyện Yên Khánh, trấn Trường Yên (nay thuộc thôn Vũ Lâm xã Ninh Thắng, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) tập sự xuất gia (1). Đến tháng 10 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299) năm 41 tuổi, Ngài chính thức xuất gia tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử, được Quốc sư Huệ Tuệ thọ giới lấy hiệu là Hương Vân Đầu Đà, sau đổi là Trúc Lâm Đầu Đà. Ngài được nhận là người truyền thừa chính thức của thiền phái Yên Tử thuộc thế hệ thứ sáu sau Thiền sư Huệ Tuệ. Việc xuất gia lần này của Trần Nhân Tông đã tạo lên một sự chấn động lớn, một sự bàng hoàng trong dân chúng, bởi đây là hiện tượng có một không hai, không chỉ trong lịch sử Phật giáo Việt Nam mà cả trong lịch sử dân tộc và thế giới. Tiếp đó Ngài đã thu nhận Đồng Kiên Cương (Pháp Loa) và Huyền Quang... làm đệ tử. Trước khi viên tịch, Ngài truyền y bát cho Pháp Loa làm Đệ Nhị Tổ. Pháp Loa truyền y bát cho Huyền Quang thuộc thế hệ thứ ba. Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang được hậu thế tôn vinh là “Trúc Lâm Tam Tổ”. Do uy tín, đức độ, trí tuệ siêu việt của Điều Ngự Giác Hoàng Trúc Lâm đệ nhất Tổ mà Thiền phái Trúc Lâm đã quy tụ được các tông phái Phật giáo Đại Việt thời bấy giờ thành một tổ chức Phật giáo thống nhất.

- Sự nghiệp của Phật hoàng Trần Nhân Tông đối với dân tộc nổi trội trên ba lĩnh vực: dựng nước, giữ nước và mở nước. Trên cả ba lĩnh vực, Ngài đã có những đóng góp hết sức đặc biệt. Trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới một người như Phật hoàng Trần Nhân Tông hiếm thấy xuất hiện. Dưới sự lãnh đạo tối cao của Ngài, dân tộc ta đã giành được thắng lợi trọn vẹn trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc (1285 và 1287 - 1288) giữ vững nền tự chủ đất nước trước tham vọng xâm lăng của đế chế Nguyên Mông, một đế chế hung hãn nhất thời đại hầu như chưa chùn bước trước bất cứ một đối thủ nào ở cả hai lục địa Á - Âu. Đơn cử như trên đất Hải Phòng; khi Ngài còn làm tổng chỉ huy đích thân xông pha trận mạc chống giặc Nguyên Mông xâm lược, Ngài và quân đội nhà Trần đã nhiều lần nhận được sự giúp đỡ, che chở của nhân dân và Tăng Ny Phật tử vùng rừng núi non hiểm trở miền Đông Bắc và vùng cửa biển sông Bạch Đằng. Giữa lúc nguy khốn nhất bị giặc baoo vây, truy đuổi gắt gao, vua Trần Nhân Tông và Thái Thượng hoàng đã được Trần Lịa người làng Hữu Triều Môn (Thuỷ Nguyên) dâng cơm gạo xấu, dân làng Thuỷ Chú (Thuỷ Nguyên), Chân Kim (Dương Kinh) cử người bí mất đưa Ngài và Thượng hoàng vượt vòng vây vào Thanh Hoá chuẩn bị cuộc phân công chiến lược. Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và bộ phận tham mưu chiến dịch Bạch Đằng năm 1288 được các sư trụ trì chùa Đỏ (Linh Độ). Chùa Vẽ (Linh Hoa Tự) ở làng Đoạn Xá giúp đỡ việc quân lương. Chùa Thiểm Khê (Liên Khê - Thuỷ Nguyên) là nơi Trần Hưng Đạo luyện tập quân sỹ chuẩn bị cho trận đánh Trúc Động năm 1288. Chùa Mai Động (Liên Khê - Thuỷ Nguyên) là nơi quân đội triều đình xây dựng kho lương phục vụ chiến dịch Bạch Đằng năm 1288. Đặc biệt là các làng xã phía Nam huyện Vĩnh Bảo còn lưu truyền rất nhiều câu chuyện cảm động về căn cứ Lưu Đồn ở huyện Thái Thuỵ, tức cung điện dã ngoại (gọi là Cung Trần Vương) của vua Trần Nhân Tông ở vùng hạ lưu sông Hoá đối ngạn với huyện Vĩnh Bảo.

- Đề cập tới động cơ tu hành của Điều Ngự Giác Hoàng đệ nhất Tổ Trúc Lâm, không thể không nhắc đến vai trò ảnh hưởng to lớn của Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung đạo hiệu Tuệ Trung Thượng Sỹ. Sách Tam Tổ Thực lục chép rằng: “Nhân Tông tham khảo những yếu chỉ của Tuệ Trung Thượng Sỹ, thu lượm được nhiều tinh hoa của Đạo Thiền, nên vẫn thờ Tuệ Trung làm thấy”. Tuệ Trung Thượng Sỹ Trần Quốc Tung là con cả của An Sinh Vương Trần Liễu, mẹ là Thiện Đạo phu nhân Lý Thị Nguyệt. Ngài là anh cả của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu (mẹ của Trần Nhân Tông). Trần Quốc Tung là bậc danh thần lỗi lạc. Ngài đã nhiều lần làm sứ giả đến trại giặc đề nghị hoà và thám thính ở Tổng hành dinh Thoát Hoan. Thực hiện kế sách giữ nước, nhà Trần chủ động “Toàn dân duy binh, tông tử duy thành” (Toàn dân làm lính, các thân vương cùng lo bảo vệ vương triều) và một trong chính sách kinh tế được nhà Trần áp dụng là pháp cấp thái ấp cho các vương hầu quý tộc và những người có công để làm phên rậu bảo vệ chính quyền. Vốn là người có nhiều công lao trong sự nghiệp chống đế quốc Nguyên Mông (từng được cử làm Phó tổng tư lệnh cánh quân phía Đông do Quốc Công Tiết chế Trần Hưng Đạo đâm trách), nên sau khi khải hoàn, Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung đã được vua Trần giao trấn thủ miền biên ải Thái Bình (vùng Hải Dương và Hải Phòng ngày nay). Trước đó Hưng Ninh Vương Trần Quốc Rung được ban thái ấp Vạn Niên, hiện chưa xác định được địa điểm cụ thể. Theo nhà sử học Ngô Đăng Lợi, có lẽ ấp Vạn Niên gần ấp Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo. Ở vùng Dưỡng Chính xã Chính Mỹ của Tuệ Trung Thượng Sỹ Trần Quốc Tung. Các bậc cao niên địa phương giải thích về tên làng Dưỡng Chân vốn được bắt nguồn từ sự kiện đạo quân của nhà Trần, trong 1 lần hối hả hành quân ra vùng cửa biển để xây dựng thế trận Bạch Đằng năm 1288 đã dừng chân nghỉ đêm tại đây. Tịnh thất này nằm trên địa bàn ấp Thang Mộc An Sinh, An Phụ, An Dưỡng, An Bang của An Sinh vương Trần Liễu được cấp sau vụ ông gây bạo loạn “Sông Cái” cuối năm 1236. Tương truyền có lúc hai đức vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đã họp bàn kế sách chống giặc với các thân vương, cũng như tham vấn ý kiến của Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung tại tịnh thất này. Do có nhiều công lao lớn, nên Hưng Binh vương Trần Quốc Tung được vua Trần ban cho đất đai thực ấp ở làng Dưỡng Chân (sau đổi thành Dưỡng Chính) ở huyện Thuỷ Đường, nay là xã Chính Mỹ, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng vẫn còn vết tích tịnh thất Dưỡng Chân của Tuệ Trung Thượng Sỹ.

- Ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm bắt nguồn từ mối quan hệ thân tộc giữa Tuệ Trung Thượng Sỹ với đức vua Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ đã từng được vua Trần Thánh Tông kính trọng gọi bằng Sư huynh, và ký thác Trần Nhân Tông cho Ngài dạy dỗ. Như chúng ta đã biết Trần Nhân Tông tìm đến Đạo Phật không chỉ với mục đích “Độ” cho mình thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, mà còn tìm những điều giải đáp cho hàng loạt câu hỏi lớn: Con người là ai? Thế giới này có hay không? Thật hay ảo? Vấn đề sinh tử? Sắc không? Việc xuất gia tu hành của Ngài không chỉ đơn thuần giải thoát cho cá nhân mà cả dân tộc. Ngài chủ trương rằng: “Thông qua giáo lý của Đạo Phật để nuôi tâm đạo đức, dạy trí làm người, bồi đắp tinh thần độc lập tự cường, phát huy sự hoà thuận trong nhân tâm trăm họ, tạo ra sự hoà hợp quốc gia, hoà hợp vua tôi, hoà hợp cha con, hoà hợp vợ chồng, hoà hợp gia đình xã hội  tạo cội rễ sức mạnh lâu bền cho quốc gia Đại Việt”. Chính từ động luwcju ấy đã thôi thúc Ngài thực hiện thành công rực rỡ sự nghiệp hoằng pháp độ sinh. Đó chính là tư tưởng chủ đạo vĩ đại nhất trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của Ngài.

- Được kế thừa những tinh hoa tư tưởng thiền học của Tuệ Trung Thượng Sỹ với hai vấn đề cơ bản “Phật tức tâm” và “Lý không” được cô đọng khúc triết trong Cư Trần Lạc Đạo phú (2) bằng chữ Nôm của Ngài.

Bụt ở trong nhà

Chẳng phải tìm xa

Nhân khuấy bổn (3)

Ta nên tìm Phật

(Hội thứ 5 - Cư Trần Lạc đạo phủ)

Hay:

Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên

Đói đến thì ăn mệt ngủ liền

Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền

(Bài kệ Hội thứ 10 - Cư Trần Lạc đạo phủ)

Và trong bài kệ trả lời Pháp Loa:

Hữu cú vô cú

Đằng khô thụ đảo,

Kỷ cá nạp tăng,

Chàng cầu ký não.

Ngài thể hiện rõ ràng lập trường “Lý bất nhị” đập tan thuyết Lưỡng nguyên “Có có - không không” gạt bỏ thuyết đối lập giữa Niết Bàn và sinh tử, chúng sinh và Phật. Theo Ngài “có có – không không” mà cũng chẳng không, chẳng có. Vì các mặt của sự vật quyện chặt vào nhau như dây bìm bìm quấn vào cây.

Thử hữu cố bi hữu

Thử vô cố bỉ vô

Thử sinh cố bi sinh

Thử diệt cố bỉ diệt

Tạm dịch:

Cái này có thì cái kia có

Cái này không thì các kia không

Cái này sinh thì cái kia sinh

Cái này diệt thì cái kia diệt

Với cái nhìn phóng khoáng, không bị ràng buộc câu thúc về đạo hay đời. Đạo và đời tuy hai mà một, hoà quyện vào nhau như nước với sữa. Đó là tư tưởng “Tuỳ tục”, “Hoà quang đồng trần”, cùng là kim chỉ nam xuyên suốt cuộc đời hành đạo của Ngài và để lại cho muôn đời sau. Trúc Lâm cũng như Trần Thái Tông rất ý thức về tính cách vô thường của cuộc sống và thao thức thực hiện sự giải thoát, đạt đạo. Ngài đã tận dụng thời gian trong mọi hành động, cử chỉ nhỏ nhặt để tham quán thiền đạo, không để cho nó trôi qua một cách vô ích, qua bài kệ:

Thân như hơi thở qua buồng phổi

Kiếp tựa mây luồn đỉnh núi xa

Chim quyên kêu rõ bao ngày tháng

Đâu phải mùa xuân dễ luống qua (4)

Về sự nghiệp hoằng pháp của Ngài. Sử liệu có ghi: Năm 1034 Ngài chủ trương mở rộng công cuộc giáo hoá, bằng việc “Vân du” khắp nơi, đến tận những vùng quê xa xôi hẻo lánh, để vận động nhân dân xoá bỏ dâm từ (những nơi thờ tự các thần loã thể và sinh thực khí), dạy cho dân biết sống và thực hành giáo lý “Thập thiện” (không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không nói ác khẩu, không tham dục, không sân khuể, không tà kiến). Thủ pháp giáo hoá của Ngài tuy thật đơn giản, nhưng lại trúng với tâm Phật và lòng dân. Bởi cỗi gốc khổ đau hay an lạc của con người đều bắt nguồn từ ba nghiệp thân khẩu ý.

Tự mình điều ác làm

Tự mình làm nhiễm ô

Tự mình ác không làm

Tự mình làm thanh tịnh,

Thanh tịnh, không thanh tịnh

Không ai thanh tịnh ai

(Kinh Pháp Cú - Phẩm Tự ngã thứ 12)

“Giáo lý nhập thế căn bản của Đạo Phật, đặt trên nền tảng ba nghiệp: Thân – Khẩu - Ý của con người. Từ ba nghiệp tạo lên một mẫu người đạo đức lý tưởng và hài hoà, những con người ấy sẽ tạo thành một xã hội tốt đẹp, xoá bỏ được những tệ nạn tràn lan. Việc làm của ông phản ánh nguyện vọng của dòng thiền Trúc Lâm muốn xây dựng 1 xã hội trên nền tảng luân lý Phật giáo. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, nhà vua và hoàng tộc đều là Phật tử tại gia và xuất gia, và các dòng phái Phật giáo bấy giờ hội tụ thống nhất trong dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Sự kiện này là đỉnh cao của Phật giáo thời Trần. Do vậy vua Trần Nhân Tông còn được suy tôn là Điều Ngự Giác Hoàng” (5)

Nhận định về sự nghiệp hoằng pháp của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông nhà sử học nổi tigến Lê Mạnh Thát đã nhận xét: “Việc Thượng hoàng Trần Nhân Tông đem 10 điều thiện để dạy dân chúng, rõ ràng phản ảnh quan điểm chính trị của Phật giáo Việt Nam, mà trước đó hơn ngàn năm đã được thi vào trong Kinh Lục Độ tập. Bản kinh này có thể nói là một bài kinh xưa nhất của Phật giáo nước ta hiện biết, đã tập hợp nhuần nhuyễn và thành công tư tưởng Phật giáo và truyền thống dân tộc. Nó liên tục kêu gọi những người lãnh đạo chính trị phải dùng 10 điều thiện để làm “Pháp luật quốc gia” (Pháp quốc) làm “Chính sách quốc gia” (Quốc chính) và đây cũng là lần đầu tiên ta thấy Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã thực hiện lời kêu gọi này” (6)

- Bài pháp vi diệu này cũng là bức thông điệp tâm linh đã lan toả khắp đất Việt, đặc biệt là xứ Đoài xứ Đông, trong đó có Hải Phòng. Tiêu biểu như chùa Phúc Lâm (Dư Hàng), chùa Nguyệt Quang (Đông Khê), chùa Hàm Long, chùa Thiên Vũ, chùa Linh Sơn (Mỹ Cụ), chùa Vẽ (Hoa Linh Tự), chùa Kha Lâm, chùa Vân Bản... Trong đó đáng chú ý là công chúa Thiên Thuỵ chị gái của vua Trần Nhân Tông đã chiêu mộ dân khai hoang đắp đê ngăn nước mặn mở mang nhiều làng xã ở Kiến Thuỵ và An Lão Hải Phòng ngày nay. Thái trưởng công chúa Thiên Thuỵ (tức công chúa Quỳnh Trân đạo hiệu là Đại uy Thiên Thánh) đã cho dựng ngôi chùa ở trang ấp Nghi Dương (xã Ngũ Phúc - Kiến Thuỵ) gọi là chùa Mõ (còn gọi là chùa Nghi Dương). Điều Ngự Giác Hoàng đã nhiều lần về vùng đất này hoằng dương Phật pháp và tới chùa Mõ. Tục truyền, trước khi viên tịch vài ngày, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã về chùa Mõ thăm chị ốm nặng và sau đó công chúa Thiên Thuỵ thác hoá trước Ngài một ngày. Một người chị khác nữa của Ngài là công chúa Chiêu Chinh, cũng bỏ tiền của làm chùa Kha Lâm, đúc chuông, tô tượng, mở chợ bến đò và khai hoang ở vùng đất vẹn sông Lạch Tray (quận Kiến An ngày nay). Theo Ngọc phả đền Kha Lâm: Bà đã để lại cho dân làng 171 mẫu ruộng. Công chúa Chiêu Hoa con vua Trần Thánh Tông cùng chồng là Thái học sinh Cao Toàn, người làng Phù Liễn (Kiến An) đã dốc lòng giúp dân làng Phù Liễn, làng Tiểu Trà được nhân dân rất sùng kính. Sách Đồng Khánh dư địa chí và Hải Dương toàn hạt dư địa chí, Mục từ miếu huyện Tiên Minh chí chép: “Trần Nhân Tông sau khi nhường ngôi vua để đi tu ở Yên Tử. Một hôm từ Thiên Trường qua Diên Lão (nay thuộc xã Tiên Minh huyện Tiên Lãng) gặp phụ lão cung kính đón rước. Nhân Tông rất bằng lòng, cho là dân nơi đây biết lễ ban cho tên là “Diên Lão”, lại dặn sau này thấy trên mặt sông có vật lá thì rước về thờ sẽ được ch chở. Khi Nhâ Tông nằm trên phiến đá thác hoá, phụ lão Diên Lão thấy có phiến đá trôi ngược dòng sông, nhớ lời dặn bèn rước về lập đền thờ gọi là Trần Nhân Tông Từ (tức đền thờ Trần Nhân Tông) rất linh ứng, hòn đá nay vẫn còn ở trong đền”. Đó là những dấu ấn lịch sử vàng son vô cùng thiêng liêng của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên đất Hải Phòng.

- Tóm lại: Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông là 1 vị vua anh hùng, là vua Phật của Việt Nam, một con người nhân hậu, một thiền sư yên bác năng động. Nói cho đủ hơn, con người Đức vua Trần Nhân Tông là 1 tổng hợp uyển chuyển của các tác phẩm bậc “Trí sỹ”, tư tưởng của Ngài thể hiện tính nhất quán giữa đạo và đời, xuất thế và nhập thế không ngăn ngại. “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác...”. Tư tưởng ấy thuộc về Phật giáo Đại thừa, mà các Đại sỹ Bồ tát đã thể hiện trong các kinh: Duy Ma Cật, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Niết Bàn, Địa Tạng v.v... với chủ trương “Tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh”.

- Tư tưởng của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông không chỉ dừng ở thành tựu thế tục “Dĩ nhân tâm vi kỳ tâm” để đạt cho được mục đích tối hậu “Non sông muôn thuở vững âu vàng”, mà nó còn vươn tới tầm cao hơn, xa hơn, siêu việt hơn. Đó là thủ pháp sử dụng giáo lý Đạo Phật để tịnh hoá con người và xã hội. Cụ thể là đề cao sự tự ngộ, sự nỗ lực rèn luyện của tất cả mọi người. Dù xuất gia hay tại gia, sống trong chùa hay ngoài đời, miền là biết tu tập, cải tạo tâm từ ác chuyển thành thiện, từ xao động chuyển thành bình lặng, định tĩnh biết phá trừ vô minh, tham dục thì đều đi đến con đường giác ngộ. Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đi khắp các chốn thôn dã, khuyên dân bỏ những hủ tục mê tín, thực hành giáo lý Thập thiện, nhằm xây dựng một mẫu người tốt, gia đình tốt, xã hội tốt, đất nước tốt, tràn đầy an vui hạnh phúc. Tư tưởng ấy đã lan toả toàn cõi Việt, trong đó có Hải Phòng chúng ta ngày nay được thừa hưởng những tinh hoa giá trị ấy.

- Với những thắng duyên ấy, người dân Hải Phòng nói chung và Tăng Ny Phật tử Hải Phòng nói riêng phải chung sức đồng lòng giữ gìn và phát huy làm sao cho thật xứng đáng: “Hải Phòng nơi dấu ấn lịch sử vàng son của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông” ngày càng rực sáng.

TTG

(1) Nguyễn Lang - Việt Nam Phật giáo sử luận - Nhà xuất bản Lá Bối - Paris. Tr.335

(2) Cư Trần Lạc Đạo phú - Lê Mạnh Thát, Sđd. Tr.400-418.

(3) Khuấy bồn: Quên gốc

(4) Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Sđd, tr. 374

(5) Phạm Thế Dương, Sđd, tr. 49-58

(6) Lê Mạnh Thát, Sđd, tr.208

Trao đổi tìm hiểu về cây thị 800 tuổi ở làng Tri Yếu

Theo thần phả còn lưu lại thì thôn Nhất Trí, làng Tri Yếu, xã Đặng Cương, huyện An Dương, TP Hải Phòng thời Hùng Vương thứ 18 (Hùng Duệ Vương) có tên ấp là Quần Anh.

alt

Họ Trần Hữu là một trong bốn dòng họ đến lập ấp sinh sống tại đây. Cả bốn dòng họ đều lập từ đường thờ các cụ thủy tổ dòng họ mình. Ở bốn từ đường các cụ đều trồng cây thị làm kỷ niệm. Trải qua thăng trầm các từ đường bị tàn phá. Duy chỉ còn cây thị ở khu từ đường họ Trần Hữu là tồn tại đến ngày nay.

alt

Đối chiếu với các tư liệu lịch sử và bằng các biện pháp khoa học, các chuyên gia đã xác định cây Thị này có độ tuổi đời từ 800 đến 1000 năm. Cây cao hơn 30 m có 4 cành lớn tỏa về 4 hướng. Thân cây có chu vi hơn 1m. Tháng 3 âm lịch cây ra hoa trắng phau, đến mùa thu cây ra quả thơm ngát một vùng.

alt

Từ đường họ Trần Hữu thờ cụ Trần Lân- thân phụ của tướng quân Trần Rồng (Chàng Rồng). Cây thị hàng ngàn năm tuổi nằm ở phía tay phải từ đường, tháng ngày tỏa bóng mát rượi như bàn tay tổ tiên xòe rộng che chở cho con cháu. Cây thị 800 tuổi được công nhận là “Cây di sản quốc gia” vào năm 2017.

MT

Chúc mừng các nữ Doanh Nhân họ Trần Việt Nam

Chủ tịch Hiệp Hội Doanh nghiệp Doanh nhân họ Trần

Trần Vĩnh Hải chúc mừng nữ Doanh Nhân họ Trần Việt Nam

Nhân ngày 20 tháng 10 năm 2018

alt

Hiệp hội Doanh nghiệp- Doanh nhân

Họ Trần đất Việt có mấy vần

Chúc chị em Doanh nhân dòng họ

Xin chúc chị môi hồng xinh đẹp

Xin chúc em má đỏ dễ thương

Gia đình, chồng vợ hoài đơm nụ

Hạnh phúc đong đầy nở trăm hoa

Doanh nghiệp tiến phát thu nhập khá

Chị em cứ trẻ mãi không già.

Chủ tịch :

TRẦN VĨNH HẢI

Lời bình của ông Trần Phương:

Thật tuyệt vời bài thơ chủ tịch HẢI
Tặng các nữ Doanh Nhân dòng họ
Một tấm lòng tình nghĩa Đông A.
Một bài thơ hay một lẵng hoa
Hương thơm ngào ngạt tình mà đắm say
Một bài thơ tuyệt tác rất hay
Lung linh sắc thắm tình đầy nghĩa nhân
Tài doanh nghiệp, lại Đắc Nhân Tâm
Doanh Nhân, Doanh Nghiệp họ Trần
Có Trần Vĩnh Hải mười phân vẹn mười !

TP

Trao đổi tìm hiểu về khu di tích Đền và Chùa Mõ

Đền và Chùa Mõ thuộc xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng; thờ Quỳnh Trân công chúa- người gắn bó sâu sắc với danh tướng Trần Khánh Dư.

alt

Năm Quí Mùi 1283, công chúa xin vua Trần Thánh Tông cho xuất gia qui y nơi cửa Phật; Bà chiêu mộ dân đến khai hoang lập ấp, rồi cùng dân xây dựng Chùa Mõ. Theo lời kể dân gian công chúa đặt hiệu lệnh bằng tiếng mõ để mọi người nghe đó mà nghỉ ngơi, ăn uống, đi làm... nên mọi người gọi công chúa là “Bà chúa Mõ”, rồi tụ tập trai tráng mở vật cầu trời cho mưa thuận gió hòa.

Tháng 11 năm Mậu Thân, công chúa viên tịch, thi hài được đưa về chùa Tư Phúc ở kinh sư lập tháp an táng. Vua Trần Anh Tông ra sắc chỉ tặng phong Trần Triều A Nương Thiên Thụy Quỳnh Trân công chúa, ban cấp 300 quan tiền đồng cho 5 xã rước sắc phong về lập đền thờ. Đền Mõ có từ đó và được lưu giữ đến ngày nay. Đền Mõ nằm trong khuôn viên có diện tích 12.000m2, bên cạnh đền là Chùa Mõ có cây gạo cổ thụ trên 700 năm, cành lá xum xuê tỏa bóng. Hàng năm lễ hội Đền và Chùa Mõ được tổ chức vào mồng 6 tháng Giêng.

MT

Tháng bảy tri ân nghĩa tình đồng đội- ký của Trần Hiền

Từ Phấn Mễ, Phú Lương, Thái Nguyên, cánh chúng tôi lại lên xe đi thẳng về Tiên Lãng Hải Phòng thăm anh Phạm Viết Soạn, cựu chiến binh, trung đội phó B1 K21. Anh rất nóng lòng chờ đợi cuộc gặp mặt sau 43 năm kể từ ngày tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh 1975. Căn bệnh quái ác đã hành hạ anh, không cho anh đi Thái Nguyên. Gặp nhau anh tiếc lắm. Anh nói “ cay lắm”! tao không thế đi để đón và tiễn đưa Hùng Miên được. Chúng tôi đành an ủi anh chứ biết nói thế nào được.

alt

Anh từng là lính đặc công bị thương, về đơn vị trinh sát chúng tôi. Anh là người sống vui vẻ hòa đồng và rất thương yêu cánh lính trẻ chúng tôi. Bị thương gãy hai răng cửa và môi bị sứt, vì thế chúng tôi gọi anh với cái tên “Soạn Sứt”. Anh không giận mà vui vẻ chấp nhận. Anh tếu táo và cứ nhè điểm yếu của bất cứ thằng lính nào để đặt tên, để bôi bác nhau cho sướng và cũng để quên đi những gian khổ ác liệt của đời lính chiến luôn rình rập quanh mình. Những cái tên như Thắng Chồn, Song Rô, Yên Lé, Chính Lùn, Nạp Trăn đất, Thi Khoọc, v.v.. đều có dấu ấn bịa đặt của anh…Liệt sĩ Vũ Xuân Hùng được mang tên Hùng Miên chỉ vì anh sở hữu nước da bánh mật, ngăm ngăm đen, na ná người Campuchia mà thôi. Nay những người mang cái tên nói trên đã ko còn nữa. Họ đã lần lượt hy sinh và trở thành Liệt sĩ cả rồi.
Gặp nhau, anh không nhận ra tôi và “Thành sót”, dân Cẩm Thủy Thanh Hóa ? mặc dù đã từng nói chuyện với nhau qua điện thoại? Chúng tôi rất vui khi gặp anh, ôm nhau mà xúc động dâng trào. Thế rồi chúng tôi bỗng chạnh lòng buồn vì hoàn cảnh hiện tại của anh. Anh đang măc căn bệnh hiểm nghèo, ung thư đại tràng. Anh không được hưởng chế độ Thương binh vì thiếu vài phần trăm % thương tật . Anh nói đùa tao bị bay hai thằng tiền đạo ( hai răng cửa) và mấy mảnh M79 ở trong đầu nhưng khám lại không đủ tiêu chuẩn mất 21% sức khỏe. Anh nói và xuè tay ra dấu. Chúng tôi hiểu và buồn lắm. Anh nói tếu táo giá lúc bị thương nó làm bay hết mẹ nó cả hàng tiền đạo ( mấy cái răng cửa) thì chắc là được Thương binh rồi. Anh cũng không được hưởng trợ cấp nạn nhân chất độc Da cam mặc dù anh bị ung thư!!? Hàng tháng hai vợ chồng anh sống bằng số tiền trợ cấp vẻn vẹn một triệu chin trăm ngàn đồng. Anh có một cháu gái đầu nay đã 41 tuổi bị lừa bắt cóc đưa sang Trung Quốc, bị ép lấy chồng ở vùng nông thôn nghèo cách khá xa thành phố Quảng Châu Trung Quốc.
Anh ra ngoài đất bãi ven biển này lập nghiệp, sống bằng nghề làm ruộng. Có người thấy hoàn cảnh của anh, bảo hay là đưa anh vào diện hộ nghèo. Anh cáu nói "tao không thèm"!. Giá mà không có cái bịch này( cái túi chứa dịch treo lủng lẳng trước bụng) thì tao còn cuốc đất khỏe re. Anh ở xã Đông Hưng cạnh xã với Đoàn Văn Vươn, cũng là người bà con họ hàng với anh.
Nghĩ thật là “ Cay” như lời anh than phiền với chúng tôi. Chúng tôi mang quà đến thăm vợ chồng anh. Anh vẫn là “Thương binh” đối với chúng tôi, những đồng đội từng trải qua những ngày sống chết bên nhau của hơn 40 năm trước.

Trần Hiền

(Tổng Thư ký HH DN họ Trần VN Kv MB)

Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Trần Phan và Hoa Sen

Ngày chủ nhật, doanhnhanhotran.com trân trọng giới thiệu tới độc giả chùm ảnh chụp Hoa Sen của Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Trần Phan- Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân họ Trần Việt Nam khu vực miền Bắc:

alt

Giữa đầm sen chọn bông nào
Chọn hoa nhị sắc lọt vào mắt em

alt

Tàn và nở đã nhớ quên
Đầm sen sương khói gọi tên tình đầu

alt

Nhị sắc Gia Bình đẹp mầu
Cho hay ong bướm cơ cầu hương say

alt

Ai về nhắc làn sương bay
Áo sen vừa độ trắng ngây ngất tình

alt

Cánh hồng, cánh trắng lung linh
Nhị vàng rạo rực chúng mình kết giao

alt
Hai bông sen nở ngạt ngào
Trong đầm sen với dạt dào sắc hương.

(Ảnh: Trần Phan- Lời thơ: Minh Trí)


Cuộc kháng chiến chống quân Mông- Nguyên lần thứ ba và chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 1288

alt

Nhà sử học Trần Hồng Đức

Quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy thiên tài của Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ, các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và Quốc ông Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn trong 30 năm ba lần chiến thắng giặc Mông Nguyên. Công lao to lớn của Vương triều Trần là đã ba lần đánh thắng những đội quân vừa đông, vừa mạnh đã từng bất khả chiến bại: Lần thứ nhất, năm 1258, 5 vạn quân; lần thứu hai, năm 1285, 60 vạn quân và lần thứ ba, năm 1287-1288, 50 vạn quân. Quân Mông – Nguyên hung bạo, mạnh nhất thế gới thời đó đã bị quân dân Đại Việt đánh cho thảm bại, thất điên bát đảo. Trấn Nam vương Thoát Hoan, chủ tướng của giặc đã phải chui vào ống đồng cho quân kéo chạy qua biên giới mới thoát chết.

Sau hai lần xâm lược nước ta và bị thất bại nhục nhã, vua Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt vô cùng căm giận, từ tháng 3 năm Bính Tuất (1286) đã ra lệnh đình chỉ việc chuẩn bị đánh Nhật Bản để huy động 50 vạn quân ở các tỉnh Giang Hoài, Hồ Quảng, Giang Tây, Vân Nam và các châu ở ngoài biển như Nhai, Quỳnh, Đam, Vạn (trên đảo Hải Nam), vẫn trao cho Thoát Hoan thống lĩnh, cho A-Bát-Xích làm Hành tỉnh tả thừa, Áo-Lỗ-Xích làm Bình chương sự, Ô Mã Nhi, Phần Tiếp làm tham tri chính sự, với danh nghĩa phò Trần Ích Tắc là Quốc vương bù nhìn để sang xâm lược nước ta lần nữa.

Quân xâm lược chia làm ba đạo tiến vào nước ta:

- Đạo quân do Thoát Hoan chỉ huy đi từ Quảng tây theo đường Lạng Sơn.

- Đạo quân do Áo-Lỗ-Xích đi từ Vân Nam theo đường sông Hồng tiến xuống.

- Đạo thủy quân do Ô-Mã-Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy với hơn 600 chiến thuyền từ Quảng Đông tiến quân theo hướng biển. Thoát Hoan giao cho Vạn Hộ hầu Trương Văn Hổ chỉ huy một đoàn thuyền chở 70 vạn thạch lương theo sau phục vụ cuộc chiến.

Để chỉ huy cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông xâm lược lần thứ ba, Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông lại sắc phong Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang. Từ tháng 6 năm Bính Tuất vua đã lênh cho vương hầu tôn thất mộ binh, thống lĩnh thuộc hạ của mình.

Vua Trần Nhân Tông hỏi Hưng Đạo vương: “Thế giặc năm nay thế nào?”.

Hưng Đạo vương trả lời: “Nước ta thái bình lâu ngày, dân không biết việc bình. Cho nên năm trước quân Nguyên vào cướp thì có kẻ đầu hàng chốn chạy. Nhờ uy linh của Tổ tông và thần võ của bệ hạ, nên đã quét sạch được bụi Hồ. Nay nếu nó lại sang thì quân dân ta đã quen việc chiến trận, mà quân nó thì sợ phải đi xa. Vả lại chúng còn nơm nớp cái thất bại của Hằng, Quán (1) không còn chí chiến đấu. Theo như thần thấy, phá được chúng là điều chắc chắn”(2).

Vua lệnh cho Hưng Đạo vương đốc thúc vương hầu tôn thất điều động quân lính, chế tạo vũ khí, thuyền bè, diễn tập quân lính điều động được. Mùa xuân năm Đinh Hợi (1287), quan chấp chính xin tăng quân số, Hưng Đạo vương nói: “Quân quý ở tinh nhuệ, không quý ở số đông…”. Đầu mùa đông năm 1287, quân xâm lược tiến gần biên giới, vua hỏi Hưng Đạo vương: “Giặc tới, liệu tình hình thế nào”. Vương trả lời: “Năm nay đánh giặc nhàn” (3).

Lần này Quốc công Tiết chế rất chú trọng đến chiến trường ven biển Đông Bắc. Đó là đường tiến của thủy quân và đoàn thuyền tải lương của giặc. Hưng Đạo vương giao cho Phó tướng Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư và Phán thủ Thượng Vị hầu Trần Toàn nhiệm vụ chặn thủy quân của giặc.

Dưới sự chỉ huy tài giỏi của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương, toàn quân và toàn dân ta lại dùng chiến tranh du kích để tiêu hao sinh lực địch.

Ngày 28 tháng 11 năm Đinh Hợi (1287) Phán thủ Thượng Vị hầu Trần Toàn đem thủy quân đánh địch ở vùng Đa Mỗ (Núi Ngọc, Móng Cái, Quảng Ninh). Giặc chết đuối rất nhiều, quân ta bắt sống hàng trăm tên, thu được nhiều ngựa và vũ khí. Tại đây đã diễn ra nhiều trận đánh ác liệt, nhưng quân của Trần Khánh Dư không đủ sức ngăn được đạo thủy quân của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp. Chúng ngược sông Bạch Đằng kéo vào Vạn Kiệp hội quân với Thoát Hoan. Đầu tháng 2 năm 1288, quân địch ở Vạn Kiếp lên tới 30 vạn. Để bảo toàn lực lượng, quân ta tạm rút khỏi kinh thành Thăng Long. Thoát Hoan huy động một lực lượng quân thủy bộ dọc sông Hồng đuổi theo ráo riết. Ô Mã Nhi không sao bắt được các chỉ huy chủ chốt của ta. Chúng sục sạo vào Phủ Long Hưng, quật mộ vua Thái Tông Trần Cảnh. Chúng triệt hạ nhiều điền trang, thái ấp ở Ngự Thiên, Hồng Châu, Hải Đông gây trăm ngàn tội ác với nhân dân ta.

Thua giặc trận đầu, Trần Khánh Dư tạ tội với triều đình và xin ở lại lập công chuộc tội. Ông quay lại, chơ cho Ô Mã Nhi đi qua đem quân tấn công vào đoàn thuyền chở lương thực của Trương Văn Hổ, lấy được rất nhiều lương thực, vũ khí rồi cho đánh đắm thuyền giặc xuống biển. Quâ ta tiêu diệt sạch đoàn thuyền lương của giặc, Trương Văn Hổ phải lên xuống chiếc thuyền con trốn về nước (11-1-1288).

Sau chiến thắng Vân ĐỒn – Cửa Lục, Trần Khánh Du đưa thư về báo tiệp. Thượng hoàng mừng rỡ xá tội cho Trần Khánh Dư và nói với Hưng Đạo vương rằng: “Quân Nguyên cốt trông vào lương thực, vũ khí, nay ta lấy hết cả rồi thì thế nó không còn trường cửu được nữa”. Hưng Đạo vương tuân lệnh, trả tù binh về cho phía giặc, chúng càng hoang mang, muốn rút về nước vì lương thực mỗi ngày một cạn.

Thắng lợi của quân ta ở miền Đông Bắc khiến cho Thoát Hoan càng bị cô lập và suy yếu. Mất lương thực, lại bị tiêu diệt một bộ phận thủy quân khá lớn, chúng hoang mang lo sợ vô cùng. Đầu tháng 3-1288, Thoát Hoan buộc phải quyết định bỏ Thăng Long chuyển quân về Vạn Kiếp tổ chức phòng thủ và cho người về nước cầu viện, lấy thêm lương thực. Hưng Đạo vương đoán biết ý giặc đã sai các tướng đem quân lên giữ núi Kỳ Cấp và ải Nữ Nhi ở mặt Lạng Sơn không cho người đi lại.

Thoát Hoan thấy quân thế của Hưng Đạo vương rất mạnh, chưa thể phá được, bèn nghe lời các tướng, sai Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dẫn thủy quân theo đường sông Bạch Đằng về trước, còn đường bộ thì sai Trình Bằng Phi, Trương Quân dẫn binh đi chặn hậu.

Hưng Đạo vương biết mưu đó, bên sai Nguyễn Khoái dẫn binh qua đường tắt lên mé thượng lưu sông Bạch Đằng, kiếm gỗ đẽo nhọn bịt sắt đóng khắp giữa sông Bạch Đằng rồi phục binh chờ. Khi nào nước thủy triều lên thì đem binh ra khiêu chiến, nhử cho thuyển giặc đi vào chỗ đóng cọc, đúng lúc thủy triều xuống thì quay binh lại hết sức mà đánh. Lại sai Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Chế Nghĩa dẫn quân lên phục ở ải Nội Bàng (Lạng Sơn) chờ quân Nguyên chạy đến thì đổ quân ra đánh.

Các Tướng được giao nhiệm vụ tất cả đã lên đường. Khi nghe tin báo rằng Ô Mã Nhi đã kéo quân về đến Bạch Đằng, Hưng Đạo vương mới hô quân sĩ, trở sông Hóa Giang mà thề rằng “Trận này không phá xong quân Nguyên thì không về đến sông này nữa”. Quân sĩ ai nấy đều xin quyết chiến.

Nhưng chiến thuyền của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp theo dòng sông Bạch Đằng bỗng thấy tướng nhà Trần là Nguyễn Khoái dẫn chiến thuyền đến khiêu chiến, liền tức giận thúc quân sông vào đánh. Nguyễn Khoái quay thuyền chạy. Bấy giờ đang lúc thủy triều lên, mặt nước mênh mông. Ô Mã Nhi cứ thúc thuyền đuổi theo. Nguyễn Khoái nhử cho quân Nguyên đi khỏi xa chỗ đóng cọc mới quay thuyền đánh vật lại. Hai bên đánh đang hăng thì đại binh của Hưng Đạo vương tiếp đến. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp thấy thế quân ta mạnh quá, mới quay thuyền chạy trở lại. Khi chúng chạy đến khúc sông có đóng cọc thì nước thủy triều rút xuống, thuyền của quân Nguyên vướng phải cọc, đổ nghiêng ngửa, đắm vỡ rất nhiều. Quân ta thừa thắng đánh quyết liệt, quân giặc chết như rạ, máu loang đỏ cả khúc sông. Các tướng giặc Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ Ngọc (4) đều bị bắt sống. Trận chiến trên sông Bạch Đằng ngày 8 tháng 3 năm Mậu Tý (tứ 9-4-1288) quân ta lấy được hơn 400 chiến thuyền của giặc, bắt sống rất nhiều quân sĩ. Chiến thắng Bạch Đằng Giang là chiến thắng vĩ đại nhất trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ ba.

Thoát Hoan nghe tin thủy quân bị vỡ, liền hốt hoảng dẫn bọn Trình Bằng Phi, Á Bát Xich, Trương Quân, Trương Ngọc theo đường bộ chạy về ải Nội Bàng, thì gặp quân mai phục của Phạm Ngũ Lão đổ ra đánh. Trương Quân dẫn 300 quân đi đoạn hậu bảo vệ cho Thoát Hoan chạy trốn. Trương Quân bị Phạm Ngũ Lão chém chết. Thoát Hoan chạy thoát ra được ngoài cửa ải nhưng quân sĩ mười phần tổn hại đến sáu, bảy phần.

Từ ải Nữ Nhi đến núi Kỳ Cấp đều có quân ta phục sẵn. A Bát Xích, Trương Ngọc bị quân ta bắn tên độc xuống như mưa, cả hai đều bị bắn chết. Tướng Trình Bằng Phi lấy hết sức bảo vệ Thoát Hoan chạy ra Đan Kỳ qua Lộc Châu rồi lên đường tắt chạy về châu Tư Minh. Áo Lỗ Xích đi sau thoát chết, nhặt nhạnh tàn quân theo Thoát Hoan chạy về Yên Kinh.

Thế là chỉ trong vòng chưa đầy nửa năm, Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương đã chỉ huy quân dân Đại Việt đánh thắng giặc Nguyên Mông xâm lược nước ta lần thứ ba, quét sạch chúng ra khỏi bờ cõi. Ông hội các tướng lĩnh, dẫn quân rước xa giá Thượng hoàng Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông về lại kinh thành Thăng Long.

Ngày 17 tháng 3 năm Mậu Tý, vua Trần Nhân Tông đã cho dẫn các tướng giặc bị bắt là Ô Mã Nhi, Phán Tiếp, Nguyên soái Điền, Sầm Đoàn và Vạn hộ, Thiên hộ về phủ Long Hưng (Thái Bình) làm lễ Hiến phù, mừng thắng trận trước Chiêu Lăng vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) vị vua anh hùng đã lãnh đạo quân dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ lần thứ nhất năm 1258.

Nước Đại Việt ta dưới Triều Trần luôn muốn giữ hòa bình hữu nghị để xây dựng đất nước, dân chúng được lạc nghiệp, an cư, sống trong cảnh thái bình, hạnh phú, nhưng quân xâm lược đã không để ta yên, lúc nào chúng cũng muốn thôn tính nước ta, thì cả dân tộc ta đoàn kết một lòng đánh giặc cứu nước. Quân dân ta quyết đánh và đã chiến thắng cả ba lần, lần sau oanh liệt hơn lần trước.

Sau khi đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước, Nhà Trần lấy đức hiếu sinh tha cho hàng vạn tướng sĩ của giặc bị quân ta bắt sống như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp. Tích Lệ Cơ, các quan Thiên hộ, Vạn hộ của chúng được sống về nước. Sau đó ta lại cử Sứ Thần sang giao hảo để dập tắt nguy cơ chiến tranh.

Năm nay 2018, kỷ niệm 730 năm (1288-2018) chiến thắng Bạch Đằng và kỷ niệm 3 lần chiến thắng giặc Nguyên Mông là dịp để thế hệ chúng ta ôn lại những bài học lịch sử - bài học xây dựng thành lũy trong lòng dân để chiến thắng kẻ thù hung bạo và mạnh nhất thế giới thời đó và phát huy hào khí Đông A muôn đời tỏa sáng trong sự nghiệp xây dựng Đất nước và bảo vệ Tổ quốc thân yêu.

CHÚ THÍCH:

1. Chỉ Lý Hằng và Lý Quán chết trong cuộc chiến 1285.

2. Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, NXB KHXH, 1993, tr. 58.

3. Sdd, tr. 58,59

4. Nhiều tài liệu đều ghi là Tích Lê Cơ hay Tích Lê Cơ Đại vương. Tên tướng Mông Cổ này tên là Tích Lê Cơ, còn Vương là tước hiệu. Chữ Ngọc chép nhầm từ chữ Vương (chú thích của người dịch ĐVSKTT). Tác giả chép theo sách đã dẫn, tr.62.

Niềm tin người lính

alt

Viết về cựu chiến binh, doanh nhân Trần Vĩnh Hải - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Giao nhận & Vận tải Quốc tế Hải Khánh

(Ảnh: Kỷ niệm ông Trần Vĩnh Hải tới thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Một chiều thu, ngư­ời lính già đầu bạc

Kể tôi nghe những ký ức xa xăm

Tuổi thơ x­a lận đận tháng năm

Cùng mẹ già và em trai thơ dại

Bao khó khăn, nhọc nhằn bư­ơn chải

Anh vẫn vững tin vào một ngày mai

Đư­ờng chiến chinh ngư­ời lính còn dài

Không một phút giây nào rời đội ngũ

Dù giữa chiến tr­ường, bom rơi đạn nổ,

Hay trong thời bình không tiếng súng bom

Anh vẫn một lòng son sắt niềm tin

Vững chí bền gan v­ượt lên phía tr­ước

Từ ng­ười lính đến doanh nhân thành đạt

Cả một chặng đ­ường vất vả, giao lao

Biển cả mênh mông sóng gió lao đao

Anh chèo lái con thuyền vững b­ước

Vẫn còn cả một niềm tin phía trư­ớc

Anh quên mình “thất thập cổ lai hy”
Cha và con sát cánh giúp nhau đi

Th­ương trư­ờng là chiến trư­ờng im tiếng súng !

Nghị lực vẫn sáng bừng trong đôi mắt

Anh nguyện làm nhiều việc thiện cho đời

Sức thanh xuân ngư­ời lính tuổi đôi m­ươi

Là động lực giúp niềm tin chiến thắng.

Huy Thắng

Từ sáng kiến đến thành công- Truyện ký

Câu chuyện về Doanh nhân Trần Vĩnh Hải bắt đầu từ cái tên “Cây sáng kiến” từ khi còn công tác tại nhà máy Cá hộp Hạ Long. Trong quá trình tham gia xây dựng nhà máy sản xuất nước đá tại đảo Cát Bà (do Liên Xô viện trợ), ông Hải đề xuất tận dụng nước làm mát máy để tiếp tục làm đá ướp cá, tiết kiệm được lượng nước ngọt lớn, giảm chi phí vận chuyển từ đất liền ra đảo. Năm 1962, sáng kiến triển lãm tại thủ đô, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và khen ngợi. Không dừng lại ở đó, Trần Vĩnh Hải tiếp tục tìm tòi, đưa ra nhiều sáng kiến mới, tiêu biểu là cải tiến hệ thống lưới đánh bắt cá của tàu Việt Đức, Việt Trung thuộc đoàn tàu đánh cá Hạ Long mang lại hiệu quả đánh bắt năng xuất cao.

alt

Năm 1962, “Cây sáng kiến” Trần Vĩnh Hải được kết nạp vào Hội Khoa học Kỹ thuật Hải Phòng. Với ông càng làm càng đam mê, nhưng muốn thành công đôi khi cần phải mạo hiểm và táo bạo. Năm 1975, khi được phân công cùng tập thể đưa tàu hút bùn từ Hải Phòng vào TP.Hồ Chí Minh, thân tàu nặng tới 55 tấn không có phương tiện chuyên chở. Trước tình thế này, ông mạnh dạn đề xuất đóng ụ nổi và dùng tàu lai dắt chở thân tàu hút bùn vào TP.Hồ Chí Minh an toàn, kịp thời phục vụ nhiệm vụ quốc phòng.

Từ sáng kiến trên, năm 1981 ông trình lên thành phố Hải Phòng đề nghị thành lập Công ty vận tải Biển và nhanh chóng được Chủ tịch Đoàn Duy Thành chấp thuận. Bằng nguồn vốn vay ngoại tệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Công ty mua Tàu Sông Cấm - tàu đầu tiên của thành phố Hoa phượng đỏ. Đưa Hải Phòng là địa phương đầu tiên trong cả nước có tàu biển vận chuyển hàng hoá Bắc - Nam và khu vực Đông Nam Á.

Năm 1984 ông nhận nhiệm vụ xây dựng Công ty vận tải biển tỉnh Phú Khánh, sau này tách làm hai tỉnh Khánh Hoà và tỉnh Phú Yên. Ông được phân công làm Trưởng Đại diện UBND tỉnh Khánh Hoà tại các tỉnh miền Bắc kiêm Giám đốc Chi nhánh của Tổng Công ty Xuất nhập khẩu - Đầu tư và Vận tải biển Khánh Hoà.

Khi các Chi nhánh của Doanh nghiệp và đại diện của tỉnh bạn đặt văn phòng tại thành phố Hải Phòng đều xin UBND tỉnh cấp nhà. Trần Vĩnh Hải đưa ra sáng kiến táo bạo xin mua Nhà và Đất tại thành phố Hải Phòng và thành phố Hà Nội bằng tiền vay Ngân hàng, và huy động của bạn bè, cán bộ nhân viên trong chi nhánh. Kết quả đã Công ty đã trụ sở làm việc với hai văn phòng tại thành phố Hải Phòng và thành phố Hà Nội. Điển hình như trụ sở văn phòng của Chi nhánh Hải Phòng toạ lạc tại nhà số 47 Lạch Tray, quận Ngô Quyền có diện tích hơn 1.000m2, nay là khách sạn Nam Cường. Ông Trần Vĩnh Hải là người đầu tiên tổ chức kinh doanh Tạm Nhập Tái Xuất. Vận chuyển hàng hoá bằng đường biển về cảng Quảng Ninh, Tái Xuất sang Trung Quốc. Hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận cao góp phần ổn định tài chính cho Tổng Công ty đầu tư xây dựng phát triển đoàn tàu biển của Nha Trang ship.

Với suy nghĩ luôn sáng tạo, nhạy bén và linh hoạt tháng 4/1994 ông quyết định thành lập Công ty TNHH Hải Khánh. Sau hai lần chuyển đổi, đến nay là Công ty cổ phần Giao nhận và Vận tải Quốc tế Hải Khánh (HFJ). Ngoài việc tìm kiếm phát triển thị trường đầu mối giao lưu quan trọng, vận tải đường biển như Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ, v.v... Ông cử cán bộ đi bổ túc nghiệp vụ học tập kinh nghiệm, không ngừng nâng cao năng lực trong kinh doanh để phục vụ Công ty.

Đến nay, Công ty CP Giao nhận và Vận tải Quốc tế Hải Khánh là một trong những đối tác tin cậy, thân thiết với hàng chục đại lý khách hàng trong và ngoài nước. Sau gần 20 năm (4/1994 – 4/2014) xây dựng và phát triển, HFJ đã phát triển thêm Công ty TNHH Trần Anh, Công ty GLOTRANS và Công ty CP Hợp tác Quốc tế Sao Biển. Ngoài ra, ông còn chỉ đạo kêu gọi đối tác nước ngoài đầu tư vào nhiều dự án như Casino Đồ Sơn, dự án Nhà máy Liên doanh sản xuất nhựa đường, sản xuất vỏ Container, kinh doanh bất động sản từ năm 1995 và liên doanh ở nhiều lĩnh vực khác trong cả nước.

Xác định nguồn Nhân lực là yếu tố quyết định, ông luôn chăm lo đời sống cán bộ, nhân viên trong Công ty. Ngoài mức lương chính, thưởng và phụ cấp thoả đáng theo tính chất công việc, Chủ tịch HĐQT Trần Vĩnh Hải còn đưa ra nhiều hình thức khích lệ tinh thần làm việc như: Tặng quà sinh nhật và các ngày lễ tết; động viên và hỗ trợ kinh phí cho người lao động khi được cử đi học đào tạo.

Sau nhiều năm trăn trở, ngày 02/12/2011 ông đề xuất sáng kiến thành lập Ban vận động Hội khoa học phát triển nguồn Nhân lực, Nhân tài Hải Phòng, ngày 20/4/2012 UBND thành phố Hải Phòng ra quyết định số 520/QĐ-CT cho phép thành lập Hội Khoa học phát triển nguồn Nhân lực, Nhân tài Hải Phòng... Ông Trần Vĩnh Hải được bầu làm Phó Chủ tịch thứ nhất của Hội.

Trong tình hình kinh tế suy thoái, cạnh tranh quyết liệt, Chủ tịch HĐQT Trần Vĩnh Hải đã sớm có nhiều sáng kiến chỉ đạo tái cơ cấu Công ty. Kết quả kinh doanh năm 2012 vẫn giữ được ổn định, đảm bảo việc làm cho người lao động với mức thu nhập bình quân 6 triệu đồng/tháng. Đây quả là những con số đáng nể !

Là người con dòng họ Trần Việt Nam, xuất thân trong gia đình có truyền thống hiếu học, Trần Vĩnh Hải rất quan tâm đến việc xây dựng gia đình văn hoá, định hướng con cái tư tưởng cầu tiến, nỗ lực học tập, phấn đấu theo đuổi con đường kinh doanh chân chính. Đến nay ba người con của ông noi gương bố, đều là lãnh đạo, Giám đốc tại doanh nghiệp ở các thành phố lớn (Hải Phòng, TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh).

Có một điều đặc biệt, Doanh nhân Trần Vĩnh Hải lúc nào cũng nặng lòng với dòng họ, tổ tiên. Tình yêu quê hương sâu nặng, trái tim người con họ Trần vẫn luôn hướng về cội nguồn. Từ năm 1990 ông Hải làm công tác xã hội từ thiện. Xây dựng 4 ngôi nhà tình nghĩa hỗ trợ gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn... Dù đảm nhận nhiều trọng trách, bận rộn với công việc nhưng ông luôn quan tâm đến hoạt động và sự phát triển của dòng họ Trần. Với cương vị Chủ tịch Ban chấp hành (lâm thời) họ Trần thành phố Hải Phòng.

Doanh nhân Trần Vĩnh Hải tích cực tham gia tổ chức các chương trình kết nối doanh nhân trong dòng tộc, giúp đỡ và chia sẻ bí quyết thành công với thế hệ trẻ...

Luôn đi trước đón đầu mọi thách thức, có lẽ chẳng có khó khăn nào khiến người lính già ấy chùn bước. Đến nay đã ngoài 80 tuổi, ông vẫn tràn trề nhiệt huyết trên mặt trận thương trường không tiếng súng. Doanh nhân Trần Vĩnh Hải đang cùng Công ty CP Giao nhận và Vận tải Quốc tế Hải Khánh tận dụng cơ hội phát triển bền vững, góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn. Nhưng đặt lên trên tất cả, điều ông cảm thấy tự hào đó chính là đã cống hiến một phần nhỏ bé cho sự phát triển của xã hội.

TVH

Video Tổng Hợp

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay98
mod_vvisit_counterHôm qua136
mod_vvisit_counterTất cả31387
Hiện có 34 khách Trực tuyến